Website:https://ditimchanly.org/videosbaigiangWWW.YOUTUBE.COM/DinhNghiTruong / LẠY CHÚA ,CON HOÀN TOÀN BẤT XỨNG / DÙ BAO NHIÊU NĂM CỐ SỬA ,NHƯNG CHƯA ĐƯỢC / XIN CHÚA CHO CON ĐƯỢC ĂN MÀY ƠN CỨU ĐỘ / AMEN . (GIUSE LUCA)**R

Giáo lý Sống Đạo - Khóa II / Dành cho Bổn Đạo Mới - bài số: 069

TẤT CẢ CHO VINH DANH CHÚA 

  GIÁO LÝ ĐỨC TIN

BÀI SỐ:   069

 ĐỀ TÀI :    LỊCH SỬ GIÁO HỘI VIỆT NAM (PHẦN II)

          Thứ sáu , ngày 06 / DEC / 2019

1. Địa giới của địa phận đàng trong và địa phận đàng ngoài: a) Địa phận đàng trong: từ sông Gianh trở vào do Đức Cha Lambert de la Motte. b) Địa phận đàng ngoài: Từ sông Gianh trở ra Do Đức Cha Francois Pallu.

2. Tuổi thơ của Giáo Hội Việt Nam như thế nào? Giáo Hội Việt Nam đã trải qua 300 năm từ (1659-1960) Hội thánh Việt Nam đã phát triển dưới sự chăm sóc của các vị thừa sai và sự đóng góp rất lớn lao của các linh mục và tu sĩ Việt Nam và cùng đồng hành với dân tộc Việt trong mọi biến cố, và các tiền nhân đã lấy máu mình để làm chứng cho đức tin. Tuổi thơ Việt Nam đã chịu sự dẫn dắt của thánh bộ truyền giáo và biết bao bàn tay cùng với vạn trái tim yêu thương trên khắp thế giới săn sóc cho / nhờ vào lòng quảng đại của các linh mục, tu sĩ thuộc các nước: Pháp, Tây Ban Nha, Ý, Đức, Bỉ, Canada, Hoa Kỳ, Trung Hoa. Các ngài đã từ bỏ quê hương để đến hoạt động tại Việt Nam. Các ngài đã chấp nhận nếp sống thiếu văn minh, thiếu tiện nghi / cư ngụ ở những ngôi nhà tranh vách đất chịu đựng khí hậu nóng bức, chấp nhận sự hiểu lầm cùng sự ngược đãi.
3. Tập thể nào đóng góp nhiều? Đó là các hội thừa sai: Paris, dòng Đa Minh, dòng Phanxicô, hàng ngàn trong các ngài đã đảm nhiệm toàn bộ khu vực đàng trong, đàng ngoài trước khi giao lại cho hàng giáo phẩm Việt Nam.
4. Dòng nữ có các dòng: Thánh Phaolo de Chartres, dòng kín Cát Minh, Dòng Chúa quan phòng, Dòng Đức Bà Truyền giáo, Dòng Vinh Sơn Phaolô, Dòng Biển Đức, Dòng Tiểu muội, Dòng Thánh Phaolô thiện bản,.../
5. Dòng nam có các dòng: Lasan/ Daminh Lyon/ Dòng Chúa Cứu Thế/ Dòng Phanxicô/ Tu Hội Xuân Bích / Đan viện Xito Mỹ ca / Biển Đức/ Gioan Thiên Chúa/ Don Boscô/ Dòng tên/ Dòng Thánh thể..../
6. Các Linh Mục Việt Nam tiên khởi: Có 4 Linh Mục Việt được truyền chức tại Thái Lan: Cha Giuse Trang / Cha Luca Bền/ Cha Benedicto Hiền/ Cha Gioan Huệ và năm sau thêm 7 tân linh mục khác thuộc đàng ngoài.
7. Công đồng đầu tiên của Hội Thánh Việt nam: Đức Cha Lambert cùng 9 linh mục đàng ngoài đã họp công đồng đầu tiên tại Việt Nam, ở Phố Hiến tháng 2 năm 1670, các vị cùng nhau đưa ra chương trình hành động, và gấp rút lo việc đào tạo chủng sinh qua tổ chức "nhà Đức Chúa Trời".
8. Hình bóng nhà Đức Chúa Trời thu nhỏ ở đâu? Từ nay mỗi giáo xứ sẽ là một phần của tiểu chủng viện, là nơi ươm trồng ơn gọi / Cha mẹ phải cầu nguyện , phải chọn và gởi con mình vào trường chủng viện. Nhờ đó Giáo Hội Việt Nam sẽ không bao giờ thiếu linh mục. Nhờ đó khi các thừa sai bị giết, bị trục xuất, thì chúng ta vẫn có đủ linh mục. 
9. Các chủng viện mọc lên khắp nơi: Miền Nam có Tân Triều, Biên Hòa / Mỹ Tho / Lái Thiêu. Miền trung có Thọ Đúc, Huế / Bình Định có Dinh Cát, rồi Hòa Ninh , An Ninh. Miền bắc có Nghệ An, Kiên Lao / Kẻ Cốc/ Bắc Ninh/ Lục Thủy/ Bùi Chu / Kẻ Bùi. Sau này mỗi giáo phận mới thành lập đều có kèm theo một chủng viện mới.
 
10. Thống kê Linh Mục, cho ta thấy gì? Năm 1700 có 43 linh mục, 1800 có 119 vị, năm 1900 có 385 vị, năm 1933 có 1158 vị, năm 1963 có 2018 vị. 
11. Hội dòng nữ nào đầu tiên mang bản sắc Châu Á? Hội Dòng Mến Thánh Giá là cánh tay hữu hình của Thiên Chúa, là dòng nữ đầu tiên mang bản sắc Châu Á. Hội dòng nữ nầy cộng tác với Hội thầy giảng và hàng giáo sĩ bản quốc để xây dựng Hội Thánh Việt Nam được như hôm nay.
12. Dòng mến Thánh Giá lớn mạnh như thế nào? Năm 1670 Đức Cha Lambert đã nhận lời khấn của 2 nữ tu đầu tiên là sơ Anê và sơ Paula tại Kiên Lao / Ngài đã soạn thảo và ban hành hiến pháp dòng. Năm sau thiết lập một cộng đoàn tại Quảng Ngãi / dần dần các chị có mặt trên khắp đất nước. Năm 1854 Đức Cha Retord liền cho biết: Đã có 72 nhà và 1600 chị em, các chị đã giúp rửa tội cho 51000 trẻ em hấp hối.
13. Thống kê của Cha Alonsô Phê cho biết: Năm 1780 khi vực Mến Thánh Giá có 5 nhà 48 dì. Đa Minh có 12 nhà 178 dì. Đến năm 1933 có 780 dì dòng Đa Minh.
14. Các dòng nam bao gồm: Kitô vua Cái Nhum/ Sư huynh Thánh Tâm Huế/ Thánh Giuse Nha Trang và Qui Nhơn/ và rất nhiều Tu Hội khác.
Dòng nữ bao gồm: Con Đức Mẹ Vô Nhiễm, Con Đức Mẹ Thăm Viếng, con Đức Mẹ Mân Côi, Trinh Vương, Khiết tâm Nha Trang, Nữ Vương Hòa Bình Ban Mê Thuộc, và Tận Hiến.
15. Giáo Hội dấn thân như thế nào? Công giáo chiếm tỷ lệ nhỏ trong cộng đồng dân tộc / thế nhưng hội Thánh Việt Nam vẫn phục vụ dân tộc và mong sao cho con người có cuộc sống tươi sáng hơn, tiến bộ và bình an hơn, nên Giáo Hội cũng để lại nhiều ấn tượng trong các lãnh vực an sinh, giáo dục và bác ái từ thiện / các linh mục đã dẫn dân đi lập trại, biến những khu vực hoang vu thành khu dân cư đông đúc.
16. Giáo Hội góp gì vào công cuộc giáo dục? Hầu như bất cứ nhà thờ lớn nào cũng đều đi kèm tu viện và trường học và các tổ chức bác ái từ thiện / những lớp học tình thương, bệnh viện hoặc trạm xá vào năm 1969 các nhà thờ và dòng tu đã đảm nhiệm: 1030 trường tiểu học với 345.756 học sinh (có 25% không công giáo). 226 trường trung học với 152.928 học sinh (46% không công giáo) 41 bệnh viện với 7000 giường , 239 trạm phát thuốc, 39 nhà hộ sinh, 29 nhà dưỡng lão, 9 trại phong với 2500 bệnh nhân.
 
17. Thử thách đạo Chúa như thế nào? Đứng trước hiểm họa thực dân Pháp, triều Nguyễn phải lựa chọn : a) Tiến hành cải cách, mở rộng bang giao với các nước. b) Chính sách thủ cựu, chuyên chế, lạc hậu. Triều đình đã chọn con đường thứ hai.
18. Lý do cầm đạo: Triều đình thấy các sinh hoạt Kitô giáo không mang lại lợi ích gì cụ thể mà số Kitô hữu cứ tiếp tục gia tăng từ 320.000 năm 1800, tăng lên 426.000 người vào năm 1855. Số giáo phận từ 3 tăng lên 8 vào 1850 và tăng lên 13 giáo phận vào năm 1933.
19. Số người đổ máu đào minh chứng cho niềm tin là bao nhiêu: 117 vị được tôn năm 1988, 1 vị vào năm 2.000.
20. Các Giáo phận được thành lập trước năm 1933: Vinh 1864 /Bùi Chu 1848/ bắc Ninh 1833 / Hưng Hóa 1895 / Phát Diệm 1901 / Lạng Sơn 1913 / Thanh Hóa 1932.
Địa phận đàng trong bao gồm Quy Nhơn/ Sài Gòn. Địa phận Huế 1950 Nam Vang 1950, Komtum 1932, năm 1933 Giáo Hội Việt Nam có giám mục tiên khởi là Đức Cha Jean Baptist Nguyễn Bá Tòng, đây là giai đoạn trưởng thành vào năm 1925 . Đức thánh Cha lập tòa khâm sứ tại Huế.
21. Ngày lịch sử cho giáo Hội Việt Nam: Đức Gioan 23 thiết lập 3 giáo tỉnh Sài Gòn, Huế, Hà Nội và bổ nhiệm giám mục chính tòa. Số giáo phận ở Việt Nam lúc nầy là 20, Hà Nội:10, Huế 4 và Sài Gòn 6. Đứng Đầu 3 giáo tỉnh là Đức Tổng Giám Mục Trịnh Như Khuê, Phêrô Ngô Đình Thục và Phaolô Nguyễn Văn Bình / có 2 Giáo phận do Giám mục ngoại quốc, còn lại 18 giáo phận do giám mục Việt Nam đảm trách. Tính đến tháng 6/1992 Việt Nam có 67 Giám Mục.
22. Từ sau năm 1975 Giáo hội Việt Nam như thế nào? Kể từ năm 1980 có đại hội giám mục hàng năm trên toàn quốc khẳng định: Chúa Giêsu Kitô trong lòng dân tộc Việt Nam / để phục vụ hạnh phúc cho đồng bào (thư chung 1980).
23. Nhìn lại lịch sử 300 năm, chúng ta thấy thế nào? Công giáo Việt Nam nhận thức rằng: Đức tin mà mình lãnh nhận và gieo trồng vun xới bằng mồ hôi và nước mắt và bằng cả máu đào của tiền nhân / ta phải hết sức trân trọng và phát huy và giữ gìn bằng cả cuộc đời mình. Vì thế để tiếp bước cha ông, chúng ta cần nỗ lực truyền giáo để tinh thần Phúc Âm được thấm nhập vào trong toàn xã hội tại quê hương Việt Nam và phải phát triển theo hướng đi đến Nước Trời, nước công chính, nước yêu thương và bình an. **R
KBX / GIUSE LUCA / KT EMMAUS
 

Trở lại      In      Số lần xem: 202
Tin tức liên quan
Video
Những nét khác nhau của các Giáo Hội: Công Giáo, Chính Thống Giáo, Tin Lành, Anh Giáo
Liên kết website
Thống kê
 Trực tuyến :  5
 Hôm nay:  716
 Hôm qua:  3997
 Tuần trước:  24297
 Tháng trước:  92406
 Tất cả:  6928459
LIKE FACEBOOK
Thông tin liên hệ
- Mọiýkiếnxingửivề:GiuseLucaTrươngĐìnhNghi
- Giáodânbấtxứng /Quảnlýwebsite.
- Email: ditimhanhphuc1974@gmail.com
- Fb:https://www.facebook.com/ditimchanly.org 
-Videos:www.youtube.com/tìmtênDinhNghiTruong
 clickvàologokinhthánh .

Chia sẻ cho bạn bè :
top